Tag Archives: women

AIDS vẫn còn dai dẳng bởi vì thực tế “chúng ta vẫn còn coi trọng mạng sống của một số người này hơn một số người khác”

Standard

Không phải do thiếu thuốc men hay phương pháp điều trị mà chúng ta chưa thể đặt dấu chấm hết cho căn bệnh thế kỉ AIDS. Thực chất, đó là vì những nhóm thiểu số trong xã hội vẫn chưa có cơ hội được tiếp cận các biện pháp chăm sóc và phòng tránh nó, diễn viên Charlize Theron đã nói tại Hội nghị AIDS Quốc tế năm 2016 vừa mới diễn ra tại Durban, Nam Phi.

SAFRICA-HEALTH-AIDS

South Africa actress Charlize Theron speaks during the first official press conference of the 21st International Aids Conference in Durban on July 18, 2016. More than 18,000 scientists, campaigners and donors opened a major AIDS conference in South Africa today, issuing stark warnings that recent gains in the fight against the disease were under threat. / AFP / – (Photo credit should read -/AFP/Getty Images)

Lý do thực sự tại sao chúng ta chưa thể đánh bại đại dịch này có thể được tóm gọn lại bằng một thực tế: Chúng ta vẫn còn coi trọng mạng sống của một số người này hơn một số người khác cô Theron nói tại hội nghị. “Chúng ta coi trọng đàn ông hơn phụ nữ, tình yêu khác giới hơn tình yêu đồng giới, da trắng hơn da màu, người giàu hơn người nghèo khổ, và thậm chí là người trưởng thành hơn thanh thiếu niên.

aids13.jpg

Là một người bản địa Nam Phi – nơi có 7 triệu người đang sống chung với HIV – cô Theron nhận định những nhóm cụ thể đang chịu ảnh hưởng không tương xứng từ căn bệnh.

Tôi biết điều đó vì bản thân AIDS không hề phân biệt đối xử. Không có cơ sở sinh lý học nào chứng tỏ căn bệnh chỉ chọn người da đen, phụ nữ, người đồng tính, người nghèo hay thanh thiếu niên. Nó không lọc ra những người yếu thế hay người bị ngược đãi”.

Chính chúng ta mặc kệ họ,” cô nói. “Chúng ta để cho họ chịu đựng, và rồi để mặc cho họ chết đi.”

Người phát ngôn và sáng lập viên của Tổ chức Tiếp cận cộng đồng Châu Phi Charlize Theron đã nói đúng hầu hết trong nhận định của mình.

Tại Mỹ, theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), người Mỹ gốc Phi là những người chịu ảnh hưởng của HIV nặng nề nhất trong số các nhóm dân tộc và sắc tộc, cho dù bệnh này không hề liên quan đến cấu tạo sinh lý của họ.

PHILIPPINES-HEALTH-AIDS-DAY

AIDS activists carry placards during a protest march marking World AIDS Day in Manila on December 1, 2012. Discrimination against homosexuals and people infected with HIV is contributing to the rapid rise of the incurable disease in the Philippines, officials and health activists said. AFP PHOTO/TED ALJIBETED ALJIBE/AFP/Getty Images ORG XMIT:

Tỷ lệ người nghèo trong nhóm người Mỹ gốc Phi cũng cao hơn so với các nhóm sắc tộc khác, điều này đã trực tiếp và gián tiếp gia tăng nguy cơ lây nhiễm cho họ và ảnh hưởng đến sức khỏe của những người đã đang sống chung với HIV. Theo nghiên cứu của CDC, những vấn đề kinh tế xã hội này giới hạn sự tiếp cân của họ tới các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, nhà ở, và giáo dục về phòng tránh HIV.

Cho tới cuối năm 2012, người Mỹ gốc Phi chiếm 41% trên tổng số người Mỹ đang chung sống với loại vi-rút này.

Một thực tế tương tự cũng xảy ra đối với thanh thiếu niên.

AIDS là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong vị thành niên ở châu Phi, và là nguyên nhân lớn thứ hai dẫn đến tử vong của thanh thiếu niên toàn cầu. Kết quả này không hề liên quan tới cấu tạo sinh lý di truyền của họ.

“Tựu chung lại, chúng ta hầu như đã buông tay chúng chỉ ngay sau 10 năm đầu tiên,” ông Craig McClure, trưởng ban điều hành về HIV/AIDS của UNICEF, đã nói với AP hồi năm ngoái.

Theo ông McClure, vấn đề này có nghĩa là trong khi ngày càng nhiều trẻ em có HIV đang sống sót qua vị thành niên, chúng ta không có đủ các chương trình sức khỏe nhắm tới thành phần này.

Rất nhiều trong số những thanh thiếu niên này chưa từng được cảnh báo về tình trạng của chúng. Một vài người rơi ra khỏi tầm kiểm soát, còn một số còn lại thì chỉ muốn hòa nhập, được cảm thấy “bình thường” và không phải đến các chương trình điều trị cho người lớn, ông McClure viết trong một bài blog trên HuffPost.

Tuy nhiên, phụ nữ thực ra lại có một số lý do về sinh lý khiến cho họ dễ mắc phải HIV hơn nam giới.

Cơ thể phụ nữ có chứa những khu bề mặt mở rộng mà ở đó việc lây nhiễm có thể xảy ra. Mật độ HIV trong tinh dịch cao hơn trong dịch âm đạo, và trong quá trình giao cấu, một lượng lớn tinh dịch đã đi vào cơ thể người phụ nữ. Độ ẩm và nhiệt độ thích hợp của âm đạo là môi trường hoàn hảo cho sự phát sinh của vi khuẩn, vi-rút và các vi trùng khác.

Liên hợp Quốc đã coi tiêu diệt đại dịch AIDS là một phần của Mục tiêu Phát triển bền vững và cam kết sẽ hoàn thành mục tiêu này vào năm 2030 – một dự án có thể tiêu tốn khoảng 26 tỉ đôla Mỹ.

Và trong khi những ca tử vong vì AIDS đang giảm xuống đáng kể, Tổng thư kí LHQ Ban Ki-moon đã cảnh báo rằng đại dịch này có thể sẽ tấn công trở lại do vài năm trở lại đây các chương trình phòng tránh HIV đang chịu nhiều thiệt hại. Theo Associated Press, điều này hầu như là do cơ chế quản lý kém, thiếu trách nhiệm và nguồn kinh phí nghèo nàn.

Nếu như chúng ta chấp nhận hiện trạng không thay đổi này, thì đại dịch sẽ quay trở lại ở nhiều nước thu nhập thấp và trung bình” ông Ban nói.

aids-girl-21

Dịch: Lan-nhi Phùng

Biên tập: Minh Sơn

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/charlize-theron-aids-endures-because-we-value-some-lives-more-than-others_us_578e3b7ae4b0a0ae97c36c45?section=women&

TÂM THƯ CỦA NAM SINH VIÊN KỸ THUẬT VỀ LÝ DO NỮ SINH CÙNG NGÀNH KHÔNG CÓ CÙNG TRÌNH ĐỘ VỚI MÌNH

Standard

Khi Jared Mauldin chứng kiến cái cách mà các bạn học nữ của anh bị đối xử, anh đã nhận ra rằng nam giới và nữ giới trong lĩnh vực Khoa học, kỹ thuật, kỹ sư và toán học (STEM: Science, Technology, Engineering and Math) không hề bình đẳng.

binh-dang-gioi-2

Nam sinh viên kỹ sư cơ khí năm cuối của trường Đại học Tây Washington đã gửi một bức thư tới biên tập viên của tờ báo trường The Easterner, trong đó có nhắc tới “những bạn học nữ trong lớp kỹ thuật” Trong phần mở đầu, Mauldin viết rằng anh và các bạn học nữ “thực ra không hề bình đằng”, điều mà nghe có vẻ có vấn đề cho đến khi anh giải thích tại sao.

Ví dụ là, tôi không phải lớn lên trong một thế giới luôn phủ nhận và không khuyến khích việc tôi tập trung vào khoa học”, anh viết. “Tôi cũng không phải sống trong một xã hội luôn căn dặn tôi không được sa lầy, hay nói rằng tôi hách dịch khi tôi thể hiện kỹ năng lãnh đạo”.

Là một giáo viên kỹ thuật cho học sinh từ lớp 4 tới 8, Mauldin kể với Huffington Post rằng anh thường xuyên chứng kiến việc phụ nữ và các bé gái đối mặt với khó khăn trong lĩnh vực STEM. Anh miêu tả một tình huống cụ thể rằng một người bạn của anh đã bị phân biệt đối xử trong lớp giải tích chỉ vì cô ấy là phụ nữ. Mauldin nói rằng các sinh viên nam luôn rất nghiêm khắc trong việc phê bình và đánh giá thành quả của cô ấy, và thường lấn át cô ấy kể cả khi họ có công nhận cô.

Một nghiên cứu được công bố bởi Tạp chí Harvard Business vào tháng Ba 2015 đã nhấn mạnh sự tồn tại của phân biệt giới tính trong lĩnh vực STEM. Theo nghiên cứu này, hai phần ba trong số 557 các nhà khoa học nữ được khảo sát nói rằng “họ phải chứng minh bản thân hết lần này tới lần khác”

Từ khi bức thư của Mauldin được đăng, nó đã được chia sẻ trên Twitter và nhận được hàng ngàn lượt yêu thích trên Facebook. Anh nói với HuffPost rằng anh tin rằng lý do mà lời khen của anh và bức thư nhận được nhiều sự chú ý đến vậy một phần là do anh là một người đàn ông, và điều đó thì thực ra không hoàn toàn là một điều tốt. Tuy nhiên, anh vẫn rất vui vì đã có tiếng nói trong cuộc tranh luận về phân biệt giới tính này.

letter to editor.jpg

“Chẳng có gì trong những điều tôi nói là mới cả; nó đã được nhắc tới cả ngàn lần trước đó rồi. Điểm khác biệt ở đây là tôi là một người đàn ông,” anh nói. “Có thể bằng cách đứng lên và phá vỡ sự im lặng từ phía những người đàn ông, tôi có thể giúp thêm một vài người đàn ông nhìn nhận vấn đề này, và bắt đầu lắng nghe những người phụ nữ đã và đang nói về chuyện này từ bao lâu nay.”

Dịch: Phùng Lan Nhi

Biên tập: Minh Sơn

LÝ DO GIÁO DỤC VỀ ĐỒNG THUẬN LẠI ĐÓNG VAI TRÒ VÔ CÙNG QUAN TRỌNG

Standard

No means no

Đã có những phản ứng đáng trách về vụ án hiếp dâm của Brock Turner; một trong số đó là phản hồi của bố cậu ta Bản thân Turner chưa từng xin lỗi cho hành động bạo lực của mình; cậu ta chỉ xin lỗi vì đã uống quá nhiều – một cái cớ mà nhiều người đã vin chặt vào. Theo trang Wonkblog, một nghiên cứu đã chỉ ra một vấn đề chính tiềm ẩn trong việc tại sao những quan điểm như của Turner (kể cả người bạn đã viết bức thư tai tiếng bênh vực cậu ta) rất phổ biến.

Trong một nghiên cứu năm 2007, Giáo sư John Foubert của trường Đại học Bang Oklahoma – người thiết kế chương trình phòng chống nạn hiếp dâm cho trường này – hỏi một nhóm học sinh nam năm nhất thuộc các hội nam sinh rằng: họ đã bao giờ hiếp dâm một ai đó chưa. Họ đều trả lời là không. Tuy nhiên, khi Giáo sư đổi cách dùng từ ngữ thì 10% những nam sinh này nói rằng họ đã  cưỡng bức một phụ nữ kể cả khi họ không đồng ý.

“Họ không nhìn nhận hành vi này là hiếp dâm, có thể như một cách bảo vệ bản thân họ khỏi lời buộc tội và trách nhiệm cho hành vi ấy nếu như chuyện đó xảy ra” – Giáo sư nói. “Quan điểm này không chỉ có trong giới sinh viên  mà còn trong xã hội nói chung

Cách nhìn nhận này vẫn còn tồn tại ngay cả khi câu chuyện về nạn quấy rối tình dục đã được nói đến trên cả nước.

Mary Koss, giáo sư của trường Đại học Arizona, đã nói:

“Bạn có thể cho một sinh viên đại học đã từng có hành vi hiếp dâm đi qua một cái máy phát hiện nói dối và sẽ chẳng phát hiện ra điều gì”. Câu nói này không phải mô tả một thí nghiệm thực sự, mà để chứng tỏ niềm tin sâu sắc của các sinh viên: “Họ thực sự không tin rằng hành động của họ  được coi là hiếp dâm.”

Đến bây giờ, chúng ta mới thấy  một bước tiến nghiêm túc đối với việc  giáo dục về sự đồng thuận, với việc California trở thành bang đầu tiên yêu cầu một tiêu chuẩn kiểu “có tức là có” (yes means yes). Giáo dục giới tính vẫn còn cực kì hạn chế tại nhiều bang ở Mỹ Một vài người trong chúng ta được dạy những điều cơ bản  về mặt giải phẫu, những mô tả đáng sợ về bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (STIs), và cơ chế tạo ra một đứa trẻ. Chúng ta ít khi thảo luận một Thực tế rằng tình dục nên được hưởng thụ một cách thăng hoa và nhiệt huyết bởi cả hai bên.

Điều gì đã có thể xảy ra nếu như những chàng trai trẻ này đã được bố mẹ họ dạy rằng, bất cứ hành động nào mà không có  sự đồng thuận bằng cả lời nói lẫn hành động đều là tội ác, tương tự những gì họ được được dạy về chuyện ăn cắp ăn trộm hay việc làm đau người khác? Nếu như các trường trung học và đại học đưa thảo luận suông thành thực tế và nói chuyện với học sinh về các tình huống có thể xảy ra, và giải thích về sự đồng thuận và xã hội đang nhìn nhận về hiếp dâm như thế nào (rape culture). Có nhiều người cho rằng việc sẽ việc truyền tải những thông điệp này sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng đã có những ví dụ rất tốt về việc làm thế nào để đạt được điều đó. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có dạy cho học sinh, nhưng lại dạy các em rằng  cưỡng bức một người phụ nữ đang bất tỉnh chỉ là hậu quả phụ của việc say rượu, chứ không phải là một vấn đề đạo đức hay hình sự

Tôi rất xúc động khi biết rằng nhiều người đã chia sẻ cho con cái họ về bức thư của nạn nhân gửi cho Turner như là một cách để nói với con về vấn đề này. Tôi rất mừng bởi những người trẻ được thấy phó Tổng thống Hoa Kỳ (là một người đàn ông) đã truyền đi một thông điệp dứt khoát và rõ ràng về xâm hại tình dục. Làn sóng phản đối Turner và Thẩm phán Persky cho thấy sự chuyển biến trong văn hóa của chúng ta về vấn đề này. Tuy nhiên vẫn còn nhiều việc cần phải làm, và không nghi ngờ gì rằng chúng ta phải dạy về sự đồng thuận sớm hơn và nhiều hơn nữa.

Dịch giả: Lan Nhi

Biên tập: Hương Giang

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/rebecca-griffin/why-educating-about-consent-is-so-important_b_10478768.html?utm_hp_ref=women&ir=Women

Should we be proud or ashamed when Vietnam has one of the highest abortion rates in the world?

Standard
Should we be proud or ashamed when Vietnam has one of the highest abortion rates in the world?

While on the internet, it’s very easy to search “abortion in Vietnam” and get the result: “Vietnam has one of the highest abortion rates in the world”, “the highest abortion rate in Southeast Asia”, “top 5 countries have the highest abortion rate”…

Thus, when the health managers or other policy makers look at every single article on media mass which contained that kind of title, they concern how we can reduce the rate of abortion or remove this on media mass. And what they have actually done is drafting the law which banning abortion from the 2nd trimester.

In fact, what we should be proud or ashamed?

5 reasons why we should be proud of:

  • Many women has been saved every day because of safe abortion
  • The complication related to abortion is very low (0,17% 1)
  • Reduce ¾ maternal mortality ratio between 1990 and 2015 (reach the MDGs) 2
  • Have accurate statistical indicators of abortion and its related issues to solve the unintended pregnancy among women and young girls by promoting safe sex and contraceptive method use.
  • Promote and support abortion right – women’s rights and human rights (abortion in Vietnam is legal according to Population Ordinary in 1989).

5 reasons why we should be ashamed of:

  • Unwanted pregnancy is still common
  • Parents and adults feel shy when talk about sexuality, reproductive health with their children
  • Teachers ignore and skip the Sexuality Education session at schools
  • Contraceptive Method is unmet need and difficult to access
  • Abortion myths and stigma are occurring every day in community

In conclusion, any abortion restrictions would make abortion more dangerous for the women. Evidence shows that where abortion is permitted on broad legal grounds, it is generally safe, and where it is highly restricted, it is typically unsafe­­ 3

Vietnam health manager and policy makers should be proud sometime and continuing promote safe abortion

Author: Le Hoang Minh Son

Thanh niên và phá thai không an toàn – Một bức tranh toàn cầu (Youth and Unsafe Abortion: A Global Snapshot)

Standard
Thanh niên và phá thai không an toàn – Một bức tranh toàn cầu (Youth and Unsafe Abortion: A Global Snapshot)

Trước khi đọc nội dung này, tôi xin khẳng định: Tôi là một người ủng hộ cho quyền phá thai an toàn theo nguyện vọng của phụ nữ. Nếu thông tin này có ảnh hưởng đến bạn đọc, vui lòng bỏ qua bài viết!

Thanh thiếu niên từ 10-24 tuổi chiếm 27 % dân số thế giới trên tổng 1,7 tỷ người. Trên thế giới, khoảng 16 triệu phụ nữ và trẻ em gái tuổi từ 15-19 sinh con mỗi năm, chiếm khoảng 11 % trên tổng các sinh nở trên toàn thế giới. Đối với những phụ nữ trẻ tuổi , những biến chứng từ khi mang thai và sinh con là nguyên nhân hàng đầu của cái chết, và phá thai không an toàn là nguyên nhân chính cho tỷ lệ tử vong này . Phá thai không an toàn cũng có thể dẫn đến những hậu quả lâu dài , bao gồm nhiễm trùng huyết, thủng tử cung hoặc ở ruột, xuất huyết, nhiễm trùng vùng chậu mãn tính và vô sinh.

Phá thai không an toàn theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là “các phương pháp để chấm dứt thời kỳ mang thai ngoài ý muốn thực hiện bởi người thiếu các kỹ năng cần thiết hoặc trong một môi trường không phù hợp với các tiêu chuẩn y tế tối thiểu, hoặc cả hai.

Các trường hợp tử vong do phá thai không an toàn đang giảm dần, nhưng tỷ lệ phụ nữ tử vong do phá thai không an toàn trên toàn cầu vẫn giữ nguyên               
·         Theo Tổ chức Y tế Thế giới ,tử vong do phá thai không an toàn  đã giảm từ 69.000 người năm 1990 xuống 47.000 người trong năm 2008 trên toàn thế giới.  Song song điều đó  là việc giảm một phần ba tỷ lệ chết mẹ từ 546.000 ca tử vong trong năm 1990 xuống 358.000 vào năm 2008.  Mặc dù có sự suy giảm về số lượng các ca tử vong do phá thai không an toàn, tỷ lệ phụ nữ tử vong vì nguyên nhân này vẫn giữ ở mức xấp xỉ 13 % trên tổng các ca chết mẹ.  Số lượng các ca phá thai không an toàn đã tăng từ 19,7 triệu trong năm 2003 lên 21.6 triệu trong năm 2008 trong khi tỷ lệ  phá thai không an toàn vẫn không thay đổi ở mức khoảng 14 ca phá thai không an toàn trên 1.000 phụ nữ tuổi từ 15-44. Sự gia tăng của các ca phá thai không an toàn không có một sự tăng trưởng tương ứng về các tỷ lệ, chủ yếu là do sự gia tăng dân số đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản .
Phụ nữ trẻ tuổi chiếm một tỷ lệ đáng kể các ca phá thai không an toàn trên toàn thế giới
·         Theo số liệu gần đây nhất có từ năm 2003 , gần 14% trên tổng các ca  phá thai không an toàn ở các nước đang phát triển là những phụ nữ dưới 20 tuổi.

·         Ở các nước đang phát triển , hai trong số năm ca  phá thai không an toàn xảy ra ở phụ nữ dưới 25 tuổi , và khoảng một trong bảy phụ nữ phá thai không an toàn là dưới 20 .

·         Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 15-19 ở châu Phi đã từng  hút thai không an toàn cao hơn so với bất kỳ khu vực nào khác .

·         Gần 60 % các ca phá thai không an toàn ở châu Phi là phụ nữ ở độ tuổi dưới 25 và gần 80 % là những phụ nữ dưới 30.

·         Ở châu Á , 30 % các ca phá thai không an toàn là phụ nữ dưới 25 tuổi và 60 % là ở phụ nữ dưới 30.

·         Ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribbean , phụ nữ độ tuổi từ 20-29 chiếm hơn một nửa số ca  phá thai không an toàn , với gần 70 % các ca phá thai không an toàn là phụ nữ dưới 30.

Ngay cả khi phá thai là hợp pháp , hàng triệu phụ nữ trên khắp thế giới, đặc biệt là phụ nữ trẻ , vẫn phải đối mặt với những rào cản để tiếp cận
Nhiều phụ nữ , đặc biệt là thanh thiếu niên và phụ nữ nghèo không có khả năng tiếp cận phá thai an toàn. Tiếp cận với các dịch vụ phá thai an toàn có thể khó khăn về mặt địa lí và cũng bị hạn chế bởi sự thiếu hụt các nhà cung cấp dịch vụ có năng lực.  Ở nhiều cộng đồng , sự kỳ thị liên quan đến phá thai có thể là rào cản để các bác sĩ được đào tạo và có năng lực cung cấp dịch vụ phá thai an toàn. Dân ngoài lề ( những người trẻ tuổi , phụ nữ sống chung với HIV, dân tộc thiểu số, và những người khác) có thể phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử khi cố gắng để tìm kiếm các dịch vụ phá thai an toàn , dẫn tới bị từ chối chăm sóc hoặc bị yêu cầu có sự ủy quyền của một bên thứ ba ngay cả khi yêu cầu này không có trong pháp luật.  Giới hạn thai, yêu cầu của cha mẹ hoặc sự đồng thuận của vợ/ chồng , và thời gian chờ đợi bắt buộc hay tư vấn cũng có thể là một rào cản đối với việc tiếp cận các dịch vụ phá thai an toàn. Cho dù quan hệ tình dục là hợp pháp với thanh thiếu niên, thì việc nhầm lẫn về tính hợp pháp của việc phá thai có thể ngăn cản một số thanh thiếu niên tìm kiếm các dịch vụ phá thai an toàn, ngay cả khi hợp pháp và sẵn có. Trong khi nhiều phụ nữ trẻ đang sử dụng biện pháp tránh thai trên toàn thế giới , vẫn có một nhu cầu rất lớn về BPTT chưa được đáp ứng về các biện pháp tránh thai và phụ nữ trẻ có tỷ lệ thất bại cao hơn so với phụ nữ lớn tuổi.
Tránh thai cho phụ nữ trẻ : nhu cầu chưa được đáp ứng trên thế giới

Trên khắp thế giới , 215 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng – họ không muốn có con, nhưng hiện tại không sử dụng biện pháp tránh thai .  Ở một số vùng trên thế giới , phụ nữ độ tuổi từ 15-19 có nhu cầu chưa được đáp ứng cao gấp đôi về tránh thai so với phụ nữ ở độ tuổi 20 .Phụ nữ trẻ tuổi từ 15-24 có nhu cầu chưa được đáp ứng về tránh thai  cao nhất ở tiểu vùng Sahara châu Phi , tiếp theo là Mỹ Latin và Caribbean và Nam và Đông Nam Á . Tỷ lệ sử dụng tránh thai với người đã lập gia đình và chưa lập gia đình vẫn còn khá thấp . Sử dụng biện pháp tránh thai ở phụ nữ độ tuổi từ 15-19 nằm trong phạm vi 20-28 % trên toàn tiểu vùng Sahara châu Phi, Mỹ Latinh và vùng Caribê , và cựu Xô Á .

·         Tại châu Phi, 20-35 % phụ nữ đã sinh hoạt tình dục, cả chưa kết hôn và đã kết hôn trong độ tuổi 15-19 đã thong báo sử dụng biện pháp tránh thai trong chín quốc gia, trái ngược với Namibia, nơi tỷ lệ tránh thai đạt 40 %.

·         Mức thấp nhất của việc sử dụng biện pháp tránh thai ở châu Phi đã diễn ra ở năm quốc gia, bao gồm Chad, Eritrea, Mali, Niger và Senegal.

·         Hiện trạng sử dụng biện pháp tránh thai trong những hoạt động tình dục của thanh thiếu niên chưa lập gia đình cao hơn các bạn trẻ đã kết hôn (ví dụ, 38 % so với 60 % ở Kazakhstan, và 4 % so với 45 % ở Nigeria).

·         Trong hầu hết các quốc gia, tỷ lệ phụ nữ từ 15-19 tuổi tránh thai thất bại trong vòng một năm kể từ khi bắt đầu áp dụng phương pháp cao hơn so với phụ nữ tuổi từ 20-49

·         Tính trung bình, tỷ lệ tránh thai thất bại vị thành niên là cao hơn so với phụ nữ lớn tuổi khoảng 25 %.

·         Sự khác biệt này có thể do một số yếu tố, bao gồm cả thanh thiếu niên có xu hướng sử dụng các phương pháp kém hiệu quả hơn so với phụ nữ lớn tuổi (đặc biệt là ở các quốc gia nơi mà phần lớn các phụ nữ lớn tuổi vô sinh), sử dụng các phương pháp kém hiệu quả, và sinh nở nhiều hơn.

Khu vực xung đột và thiết lập chiến tranh

·         Thanh thiếu niên, những người đang phải đối mặt với đói nghèo hoặc sự chia tách khỏi gia đình hoặc cộng đồng của họ khi trong tình trạng khẩn cấp, có nguy cơ bị bạo lực tình dục .

·         Thanh thiếu niên thoát khỏi bạo lực tình dục có nguy cơ bị tổn thương về thể chất , STIs bao gồm HIV , mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn .

·         Một nửa số phụ nữ di tản ở Sierra Leone, người có tiếp xúc trực tiếp với chiến sĩ, là nạn nhân của bạo lực tình dục.

·         Nửa triệu phụ nữ bị tấn công tình dục trong năm 1994 diệt chủng ở Rwanda .

·         Trong khu vực Balkan , tại Bosnia và Herzegovina có tới 50.000 phụ nữ ở tất cả các nhóm dân tộc đã bị hãm hiếp .

·         Bạo lực tình dục thời chiến và hiếp dâm thường dẫn đến mang thai cưỡng chế , buộc phải làm mẹ và phá thai không an toàn .

·         Đối với nhiều phụ nữ trong các tình huống xung đột , những người muốn chấm dứt một thời kỳ mang thai, phá thai không an toàn là lựa chọn duy nhất của họ .

·         Khoảng 25 đến 50 % trên tổng các ca tử vong ở bà mẹ trong hoàn cảnh tị nạn có liên quan đến phá thai không an toàn.

·         Các vùng xung đột và thiết lập chiến tranh thường gặp sự cố trong dịch vụ y tế công cộng do sự khan hiếm tiền và nguồn lực. Hậu quả của sự khan hiếm này là rất ít hoặc không có quyền tiếp cận để kiểm soát sinh nở và chăm sóc lien quan tới mang thai .

·         Sự ra đời của công nghệ và đào tạo để thực hiện phá thai an toàn trong các trại tị nạn và cộng đồng sẽ cải thiện rất nhiều sức khỏe và phúc lợi của các cộng đồng di dời. Những chương trình đào tạo như vậy đã được giới thiệu và áp dụng trong các thiết lập người tị nạn và cứu trợ nhân đạo khác , bao gồm Sudan , Ethiopia , Thái Lan , Kenya và Pakistan.

·          Phá thai không an toàn rất phổ biến ở các vùng xung đột và thiết lập chiến tranh và phụ nữ trẻ có nguy cơ đặc biệt do bạo lực tình dục và cưỡng chế

LUẬT VỀ PHÁ THAI TRÊN THẾ GIỚI

·         Trên toàn cầu, 60 % phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (15-44) sống ở các quốc gia nơi phá thai được hợp pháp hóa rộng rãi.

·         40 % còn lại sống ở những nơi phá thai còn rất hạn chế, trong đó hầu hết ở các nước đang phát triển.

·         Trong số phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, 92 % ở châu Phi và 97 % ở Mỹ Latin sống dưới luật phá thai bị hạn chế nghiêm trọng.

·         Ở 32 quốc gia, phá thai bị cấm dưới mọi lí do.

·         Ở 36 quốc gia, phá thai chỉ được phép khi tính mạng của người mẹ gặp nguy hiểm.

·         Hơn 59 quốc gia cho phép phá thai để bảo vệ mạng sống, để giữ gìn sức khỏe thể chất và để bảo vệ sức khỏe tinh thần của người mẹ.

·         Mười bốn quốc gia, bao gồm Ấn Độ, cho phép phá thai trên tất cả các căn cứ đề cập trước đây, thêm cả căn cứ kinh tế xã hội.

·         Cuối cùng, tổng cộng 56 quốc gia và vùng lãnh thổ cho phép phá thai mà không giới hạn lý do.

·         Trên toàn cầu, luật phá thai đang vô cùng khác biệt dựa trên các căn cứ để hợp pháp hóa phá thai, trong đó khoảng từ 0 lí do tới một số lí do, ví dụ như để bảo vệ mạng sống, để giữ gìn sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ; trong trường hợp bị hãm hiếp hay loạn luân; trong các trường hợp suy thai; vì lý do kinh tế, xã hội, và không hạn chế lý do.

PHẦN KẾT LUẬN

Không phân biệt điều kiện pháp lý, phụ nữ trên toàn thế giới, bao gồm cả phụ nữ trẻ, là rất có khả năng phá thai khi phải đối mặt với một thời kỳ mang thai ngoài ý muốn. Tỷ lệ phá thai là cao hơn tại những nơi nhu cầu kế hoạch hóa gia đình chưa được đáp ứng, tỷ lệ ngừa thai thấp, và các phương pháp tránh thai hiệu quả thấp được áp dụng. Ở những nơi luật về phá thai ít bị hạn chế nhất thường không có hoặc có rất ít bằng chứng của phá thai không an toàn; trong khi đó, giới hạn luật liên quan đến phá thai làm tăng tỷ lệ phá thai bất hợp pháp và không an toàn cao hơn. Phá thai không an toàn khiến tất cả phụ nữ, kể cả phụ nữ trẻ, vào nguy cơ tử vong và nhiễm bệnh. Chất lượng giáo dục tình dục, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ sức khỏe sinh sản, tiếp cận với các phương pháp tránh thai hiệu quả cùng với luật phá thai cởi mở là cần thiết để làm giảm tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn, tỷ lệ chết mẹ và tỷ lệ mắc bệnh trong giới trẻ.

Tác giả/ Authors: Liz Bayer, Nicole Cheetham, và Sarah Robbins, International Division

Advocates for Youth © October 2011

The original article/ Nguồn bản gốc vui lòng xem tại đây

—————

Dịch giả/ Translator: Nguyễn Thu Trang

Biên tập: Lê Hoàng Minh Sơn

Cơ quan sở hữu bản dịch/ Translation Owner: Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số  (The Center for Creative Initiatives in Health and Population)

Bản dịch đầy đủ xem tại đây